TeamRedMiner — Hướng dẫn đầy đủ
Tùy chọn:
-a, --algo=ALGORITHM Chọn thuật toán đào. Hiện có:
ethash (eth, etp, và các coin khác)
etchash (etc, bí danh của -a ethash --eth_variant_mode=etchash)
kawpow (ravencoin)
firopow (firo)
mtp_firopow (chọn firopow hoặc mtp và tắt phần mềm đào tại thời điểm fork ngày 26/10/2021)
autolykos2 (ergo)
verthash (vtc)
ton (ton)
kas (kaspa)
nimiq (nimiq)
lyra2z
phi2 (lux, argoneum)
lyra2rev3
x16r
x16rv2
x16s (pgn, xsh)
x16rt (gin)
mtp (zcoin/firo trước fork firopow)
cuckatoo31_grin (grin)
cuckarood29_grin (grin)
cnv8
cnr (monero cũ)
cnv8_half (stellite, masari)
cnv8_dbl (x-cash)
cnv8_rwz (graft)
cnv8_trtl (turtlecoin cũ, loki)
cnv8_upx2 (uplexa)
cn_heavy (CN heavy cổ điển)
cn_haven (haven)
cn_saber (bittube)
cn_conceal (conceal)
trtl_chukwa (turtlecoin)
trtl_chukwa2 (turtlecoin)
-h, --help Hiển thị thông tin trợ giúp này rồi thoát.
--debug Bật xuất log gỡ lỗi (debug).
--hardware=HW_LIST Chỉ định các loại phần cứng mà phần mềm đào sẽ thử chạy, dạng danh sách phân tách bằng dấu phẩy.
Các giá trị hiện được hỗ trợ là 'gpu' và 'fpga'. Ví dụ:
--hardware=gpu,fpga
--benchmark Bật chế độ benchmark. Mọi pool đã khai báo sẽ bị bỏ qua và một pool giả nội bộ duy nhất
sẽ được tự động thêm vào. Để benchmark các thuật toán như eth và kawpow ở epoch và chiều cao
block cụ thể, bạn cũng cần thêm tham số riêng của thuật toán như --eth_epoch=456 và --prog_height=123456.
--disable_colors Tắt màu trong đầu ra console.
--force_colors Bắt buộc xuất màu trong console ngay cả khi terminal có vẻ không hỗ trợ.
--api_listen=IP:PORT Bật API tương thích sgminer. IP:PORT là tùy chọn. Nếu có, cặp IP:PORT
quyết định (các) giao diện mạng và cổng để lắng nghe. Mặc định là 127.0.0.1:4028. Để
truy cập từ bên ngoài, hãy dùng ví dụ 0.0.0.0:4028. Cũng có thể chỉ chỉ định
cổng, ví dụ 4029. Giờ đây có thể dùng tham số này nhiều lần cho các endpoint riêng biệt.
--api2_listen=IP:PORT Bật cổng API thứ hai cho cấu hình đào kép. Endpoint API này sẽ cung cấp dữ liệu cho
thuật toán đào kép, giống như khi có hai phiên bản phần mềm đào riêng biệt chạy song song.
Mặc định là 127.0.0.1:4029, tức là cổng 4029 chứ không phải 4028. Để tự chỉ định
giá trị, tham số có định dạng giống --api_listen. Giờ đây có thể dùng tham số này
nhiều lần cho các endpoint riêng biệt.
--cm_api_listen=IP:PORT Bật API tương thích Claymore. IP:PORT là tùy chọn. Nếu có, cặp IP:PORT
quyết định (các) giao diện mạng và cổng để lắng nghe. Mặc định là 127.0.0.1:3333. Để
truy cập từ bên ngoài, hãy dùng ví dụ 0.0.0.0:3333. Cũng có thể chỉ chỉ định
cổng, ví dụ 3334.
--cm_api_password=PSW Đặt mật khẩu bắt buộc cho giao diện API tương thích CM.
--log_file(=FILENAME) Bật ghi đầu ra của phần mềm đào vào tệp do FILENAME chỉ định. Nếu không cung cấp
tên tệp, phần mềm đào sẽ ghi log vào trm_<algo>_<yyyymmdd_hhmmss>.log trong thư mục
làm việc hiện tại. Nếu tệp log đã tồn tại, phần mềm đào sẽ ghi tiếp vào cuối tệp.
-l, --log_interval=SEC Đặt khoảng thời gian tính bằng giây để tính trung bình và in hashrate GPU.
SEC đặt khoảng thời gian tính bằng giây và phải > 0.
--log_rotate=SZ[,CNT] Bật xoay vòng log. Giá trị SZ đặt kích thước log mà khi vượt quá sẽ tạo tệp log
mới. Giá trị SZ hỗ trợ các hậu tố 'k', 'M' và 'G', tương ứng nhân giá trị
với 1024, 1048576 và 1073741824. Giá trị tùy chọn CNT đặt số lượng
tệp log cũ tối đa được giữ lại. Ví dụ, tùy chọn '--log_rotate=4M,16'
sẽ khiến phần mềm đào chuyển sang tệp log mới khi tệp log hiện tại vượt quá
4194304 byte, và phần mềm đào sẽ giữ lại 16 tệp như vậy gần nhất và xóa
các tệp cũ hơn.
--short_stats Tắt đầu ra trạng thái GPU đầy đủ trong mỗi lần in hashrate, giống như trước phiên bản 0.7.10.
--dev_location=LOC Chọn vị trí cụ thể cho kết nối dev fee. Chỉ dùng tùy chọn này nếu bạn thấy
phần mềm đào liên tục báo lỗi kết nối dev fee. Cơ chế quản lý kết nối
thường hoạt động tốt ở mọi khu vực. Các tùy chọn có sẵn:
world - Mọi nơi trên thế giới trừ Trung Quốc đại lục.
non-gcp - Các quốc gia bị chặn truy cập dịch vụ Google (ví dụ Iran, Cuba).
cn - Trung Quốc đại lục.
eu - EU, Nga, Ukraina và các nước lân cận.
us - Mỹ, Canada, Trung/Nam Mỹ.
asia - Châu Á trừ Trung Quốc.
--enable_compute (Chỉ Windows) Bật chế độ compute và tắt crossfire trên các GPU cần thiết.
--long_timestamps Bật dấu thời gian đến micro giây trong log thay vì chỉ đến giây.
--restart_gpus (Chỉ Windows) Khởi động lại tất cả GPU đã cấu hình trước khi đào, tức là tắt+bật thiết bị PCI.
--uac (Chỉ Windows) Bật nâng quyền khi phần mềm đào thực hiện các tác vụ như khởi động lại GPU.
Bạn luôn có thể tránh điều này bằng cách chạy trực tiếp phần mềm đào với quyền Administrator. Tùy chọn này sẽ
hiện hộp thoại nâng quyền tiêu chuẩn của Windows, vì vậy bạn cần có mặt để nhấn 'Yes'.
Nếu không bật tùy chọn này, các tác vụ cần quyền Administrator sẽ thất bại khi
phần mềm đào chạy dưới tài khoản người dùng thông thường.
--high_score Bật in 15 share tốt nhất tìm được kể từ khi khởi động phần mềm đào trong đầu ra thống kê.
Lưu ý: có thể không được bật cho mọi thuật toán.
--allow_dup_bus_ids Cho phép nhiều GPU dùng chung một PCI bus id. Chỉ nên dùng cho card Radeon Pro Duo
và phần cứng tương tự, thông thường đây là dấu hiệu môi trường OpenCL bị lỗi.
--dns_https=URL Bật phân giải DNS của pool bằng DNS-over-HTTPS. Đây là tính năng thử nghiệm. TRM chỉ
hỗ trợ biến thể dựa trên JSON, không hỗ trợ cơ chế được định nghĩa sau này trong RFC8484. Người dùng phải
cung cấp URL https đầy đủ bao gồm cả tên phương thức. Có thể truyền tên host
thay cho địa chỉ IP thô, nhưng các tên host đó sẽ được phân giải bằng DNS của hệ thống.
Dưới đây là một số ví dụ đã được xác nhận hoạt động:
--dns_https=https://8.8.8.8/resolve (Google DNS)
--dns_https=https://9.9.9.9:5053/dns-query (Quad9)
--dns_https=https://1.1.1.1/dns-query (Cloudflare DNS service)
--dns_https_sni=HOST Khi dùng tham số --dns_https, mặc định sẽ không gửi SNI trong kết nối
SSL/TLS. Với tham số này, bạn có thể bắt buộc gửi một SNI bất kỳ. Xin lưu ý
đây là tham số mạng nâng cao và hầu hết người dùng không cần dùng đến.
--kernel_vm_mode=X (Chỉ Linux). Tự động đặt các tham số kernel cần thiết trong /etc/default/grub trên các hệ thống
Linux dựa trên Debian/Ubuntu. Điều này bao gồm hầu hết các bản phân phối đào. Hệ thống có thể được
tự động khởi động lại bằng /sbin/reboot khi tham số kernel bị thay đổi. Nếu các tham số
đúng đã có sẵn, phần mềm đào và script hỗ trợ sẽ không làm gì cả. Nghĩa là
tham số này có thể luôn có mặt trên dòng lệnh. Các giá trị hợp lệ:
N - không cấu hình chế độ, xóa các tham số hiện có của C-mode hoặc R-mode. Không khởi động lại khi thay đổi.
C - C-mode cũ của Radeon VII. Không khởi động lại khi thay đổi.
R - R-mode mới cho mọi GPU trừ Polaris. Không khởi động lại khi thay đổi.
RN - không cấu hình chế độ, xóa các tham số hiện có của C-mode hoặc R-mode. Khởi động lại khi thay đổi.
RC - C-mode cũ của Radeon VII. Khởi động lại khi thay đổi.
RR - R-mode mới cho mọi GPU trừ Polaris. Khởi động lại khi thay đổi.
--kernel_vm_mode_script=X (Chỉ Linux). Chỉ định script được gọi để đặt tham số chế độ kernel mới.
Script phải hoạt động giống script TRM mặc định có trong gói phân phối của phần mềm đào,
tên là ubuntu_mode_script.sh. Thông thường không cần dùng tham số này.
--gpu_sdma=on|off Điều khiển việc driver có dùng thao tác sdma trực tiếp để sao chép bộ nhớ từ/tới
GPU hay không. Tham số này chỉ cần trong những tình huống rất đặc biệt. Ví dụ, AMD BC-250
không hỗ trợ sdma và cần --gpu_sdma=off. Nếu bạn gặp tình trạng treo ngay khi khởi tạo GPU,
nhưng các phần mềm đào khác hoặc các phiên bản TRM cũ hơn chạy bình thường, hãy thử --gpu_sdma=off.
Thiết lập này là thiết lập môi trường và áp dụng cho mọi GPU.
Tùy chọn cấu hình pool:
-o, --url=URL Đặt URL pool. Hiện hỗ trợ URL dạng stratum+tcp và stratum+ssl.
Mỗi lần khai báo thêm tùy chọn này sẽ bắt đầu một cấu hình pool mới.
Các tùy chọn riêng cho từng pool (như -u, -p) cần được khai báo
lại cho mỗi pool mới. (Xem tệp mẫu start_multipool.sh/bat)
Chiến lược đa pool của phần mềm đào được đặt bằng tùy chọn --pool_strategy.
Ngoài ra còn có hỗ trợ đặc biệt cho các cấu hình SSL/TLS nâng cao, khi bạn cần
truyền tên host SNI tới endpoint SSL. Ví dụ, điều này cần thiết với các endpoint
SSL đóng vai trò frontend cho nhiều host và cần biết phải cung cấp chứng chỉ
cho host nào. Trong trường hợp đó, hãy dùng định dạng sau:
-o stratum+ssl://pool.tunnel.com/pool.realhostname.com:3333
Lệnh này sẽ kết nối tới pool.tunnel.com:3333 nhưng truyền pool.realhostname.com làm tên host
SNI trong giai đoạn bắt tay SSL. Tất nhiên hai tên host cũng có thể giống nhau.
-u, --user=USERNAME Đặt tên người dùng để xác thực với pool.
-p, --pass=PASSWORD Đặt mật khẩu để xác thực với pool.
--pool_force_ensub Bắt buộc gửi yêu cầu extranonce subscribe cho các pool có hỗ trợ mà phần mềm đào không biết.
--pool_no_ensub Ngăn phần mềm đào gửi yêu cầu extranonce subscribe tới pool.
--pool_broken_rpc Yêu cầu phần mềm đào chỉ cho phép một yêu cầu rpc đang chờ trên kết nối
pool. Đây là cách khắc phục cho các pool vi phạm đặc tả json rpc
về rpc ID.
--pool_ratio=RATIO Đặt tỷ lệ hashrate giữa các pool khi dùng nhiều pool với chiến lược
'load_balance' hoặc 'quota' (xem --pool_strategy). Mặc định mọi
pool dùng tỷ lệ 1. Ví dụ, dùng tùy chọn này với giá trị 2 trên
chỉ một pool sẽ khiến pool đó nhận gấp đôi hashrate so với các pool khác,
vì tỷ lệ của chúng vẫn là giá trị mặc định 1.
--pool_debug Ghi log toàn bộ lưu lượng với pool.
Tùy chọn pool chung:
--pool_connect_TO=SEC Đặt thời gian chờ khi cố kết nối tới pool. SEC là thời gian chờ tính bằng
giây. Mặc định là 10.
--pool_rpc_TO=SEC Đặt thời gian phần mềm đào chờ một RPC tới pool chưa được trả lời. Sau thời gian
này, phần mềm đào sẽ kết nối lại tới pool. SEC là thời gian chờ tính bằng giây.
Mặc định là 60.
--pool_max_rejects=N Nếu pool từ chối N share liên tiếp, kết nối tới pool sẽ được thiết lập lại. Điều này nhằm
chống lại các pool làm mất hiệu lực phiên đào mà không ngắt kết nối người dùng.
Giá trị mặc định là 5.
--pool_share_limit_ms=N Nếu pool mất hơn N ms để chấp nhận hoặc từ chối một share, ngắt kết nối hiện tại
và kết nối lại. Tùy chọn này dành cho các pool thường xuyên gặp sự cố với
một số máy chủ của họ, còn kết nối lại nghĩa là được cân bằng tải sang một máy chủ khác,
hy vọng là tốt hơn. Mặc định là không giới hạn thời gian.
--pool_strategy=STRAT Đặt chiến lược chọn pool khi chạy với nhiều pool. Các giá trị
có sẵn: priority, load_balance, quota và min_epoch. Mặc định là priority.
priority: Phần mềm đào sẽ dùng các pool theo thứ tự được liệt kê, chỉ chuyển
sang pool kế tiếp nếu pool trước không thể thiết lập kết nối.
load_balance: Phần mềm đào sẽ chia đều hashrate cho tất cả các pool
đang kết nối. Tỷ lệ hashrate giữa các pool có thể đặt bằng --pool_ratio.
quota: Phần mềm đào sẽ cân bằng đều tổng số hash đã hoàn thành trên
tất cả các pool. Nếu một pool mất kết nối rồi kết nối lại sau đó, phần mềm đào sẽ chuyển
hashrate sang pool đó cho đến khi tổng số hash của mỗi pool được cân bằng.
Tỷ lệ hashrate giữa các pool có thể đặt bằng --pool_ratio.
min_epoch: Chiến lược chuyển đổi ETH + ZIL. Phần mềm đào sẽ luôn đào epoch thấp nhất
trong số các pool đang kết nối, và nếu bằng nhau thì đào pool kết nối đầu tiên.
Vì vậy, hãy chỉ định pool đào ETH của bạn làm pool đầu tiên/chính, sau đó là pool ZIL
làm pool thứ hai. Bạn cũng có thể dùng 'eth_zil' làm tên cho chiến lược này.
--no_ntime_roll Ngăn phần mềm đào thay đổi (roll) ntime trong block header, chỉ dùng giá trị
do pool cung cấp. Cần bật tùy chọn này với một số pool khi đào x16rt.
--no_stale_submit Ngăn phần mềm đào gửi các share không thuộc job mới nhất của pool.
Tùy chọn GPU:
--platform=INDEX Đặt chỉ số của nền tảng OpenCL cần dùng. Nếu không chỉ định, nền tảng sẽ
được tự động nhận diện. Trên Linux có nhiều nền tảng, chỉ hỗ trợ khi không dùng
tham số --platform mà thay vào đó thêm --bus_reorder.
-d, --devices=DEVLIST Đặt các thiết bị GPU cần dùng từ danh sách đã nhận diện. DEVLIST phải là danh sách
chỉ số thiết bị phân tách bằng dấu phẩy, ví dụ -d 0,1,2,4. Nếu không chỉ định, mọi
thiết bị trên (các) nền tảng sẽ được dùng. LƯU Ý: mặc định các thiết bị được sắp xếp
theo thứ tự bus pcie. Dùng --list_devices để xem các chỉ số.
--init_style=1/2/3 Chỉ định kiểu khởi tạo (mặc định là 1):
1: Từng GPU một, hoàn tất tất cả rồi mới đào.
2: Ba GPU một lúc, hoàn tất tất cả rồi mới đào.
3: Tất cả GPU song song, bắt đầu đào ngay lập tức.
--pcie_fmt=FORMAT Đặt định dạng in số bus pcie. Các giá trị được chấp nhận cho FORMAT là
'hex' hoặc 'dec'. Mặc định là dec trên windows và hex trên linux.
--bus_reorder Sắp xếp lại các thiết bị đã nhận diện hoặc chỉ định theo pcie bus id. Nếu không
chỉ định nền tảng, thiết bị sẽ được thu thập từ tất cả các nền tảng AMD OpenCL
đã nhận diện. Lưu ý: Từ phiên bản v0.7.0 đây là hành vi mặc định.
--opencl_order Sắp xếp các thiết bị đã nhận diện hoặc chỉ định theo thứ tự OpenCL trình bày.
--list_devices Liệt kê các thiết bị có sẵn cho nền tảng đã nhận diện hoặc chỉ định rồi thoát
ngay lập tức. Thứ tự hiển thị sẽ áp dụng việc sắp xếp lại theo bus.
--nr_cu_override=X,Y,... Ghi đè số compute unit của mỗi GPU do OpenCL API báo cáo. Tùy chọn này
chủ yếu hữu ích cho Vega 64 đã flash bios của 56, khi driver
báo 56 CU thay vì số thực tế. Truyền danh sách số CU ghi đè cho từng GPU,
phân tách bằng dấu phẩy, làm giá trị cho tham số. Bạn có thể bỏ qua GPU và không
cần cung cấp giá trị cho mọi GPU trong dàn đào. Ví dụ cho dàn đào hỗn hợp gồm hai Vega
ở chỉ số 1 và 3 cùng hai GPU khác: --nr_cu_override=,64,,64. Bạn có thể kiểm tra
tham số của mình bằng cách thêm --list_devices trước khi đào.
Tùy chọn điều khiển xung nhịp/điện áp (chỉ windows, tính năng BETA):
Phần mềm đào có chức năng cơ bản để đặt xung nhân và xung bộ nhớ cùng điện áp
tương ứng, cũng như chọn giữa các bộ timing tích hợp trong driver windows. Với mỗi
tham số bên dưới, bạn liệt kê giá trị cho (các) GPU trong dàn đào dưới dạng danh sách
phân tách bằng dấu phẩy. Một số tham số không được dùng cho một số GPU. Bạn có thể bỏ qua GPU trong danh sách.
Phần mềm đào luôn đặt và dùng p-state cao nhất cho cả nhân và bộ nhớ trên GPU GCN
(Polaris, Vega). Xin lưu ý rằng GPU Rx Vega _bắt buộc_ phải chỉnh sửa bảng powerplay
ở trạng thái mem p2 trước khi có thể chạy điện áp thấp hơn 900mV. Ngoài ra, GPU Big Navi
vẫn cần dùng các công cụ như MorePowerTool để chỉnh sửa bảng powerplay, ví dụ
để cho phép đặt điện áp thấp hơn. Phần mềm đào _có thể_ sẽ bổ sung hỗ trợ các chức năng
liên quan đến bảng powerplay trong tương lai.
--clk_debug Bật in log khi khởi động liên quan đến việc đặt xung nhịp/điện áp/timing.
--clk_core_mhz=MHZ1,MHZ2,... Đặt xung nhân cho từng GPU tính bằng MHz.
--clk_core_mv=MV1,MV2,... Đặt điện áp nhân cho từng GPU tính bằng mV.
--clk_mem_mhz=MHZ1,MHZ2,... Đặt xung bộ nhớ cho từng GPU tính bằng MHz.
--clk_mem_mv=MV1,MV2,... Đặt điện áp bộ nhớ cho từng GPU tính bằng mV. Không dùng cho GPU Navi hoặc Big Navi.
--clk_timing=V1,V2,... Chọn giữa các bộ timing bộ nhớ có sẵn trong driver. Không có trên mọi GPU và
driver.
Ví dụ một phần dòng lệnh cho hệ thống bốn GPU gồm Rx Vega 64, 580, 5700XT và
6800 đào ethash hoặc tương tự. Chúng ta chỉ đặt điện áp bộ nhớ cho Vega và 580, và chỉ chọn
giá trị timing của driver cho Big Navi:
teamredminer.exe ... --clk_core_mhz=1100,1000,1275,1000 --clk_core_mv=875,850,725,675
--clk_mem_mhz=1107,2100,1820,2130 --clk_mem_mv=875,850,, --clk_timing=,,,1
Tùy chọn điều khiển quạt:
--fan_control(=CFG1,CFG2,...) Tham số này cho phép phần mềm đào điều khiển quạt GPU. TRM hỗ trợ
tự động điều chỉnh tốc độ quạt GPU dựa trên nhiệt độ nhân, junction và/hoặc bộ nhớ.
Chúng tôi cũng hỗ trợ đặt tốc độ quạt cố định theo phần trăm.
Mỗi loại GPU có một cấu hình quạt được dùng làm mặc định. Chúng tôi hỗ trợ
cả việc ghi đè cấu hình mặc định theo loại GPU lẫn đặt cấu hình
riêng cho từng GPU trong dàn đào.
Một cấu hình quạt gồm (tối đa) sáu giá trị, phân tách bằng ký tự ':' (dấu hai chấm). Các giá trị
là: nhiệt độ nhân mục tiêu, nhiệt độ junction mục tiêu, nhiệt độ bộ nhớ mục tiêu, tốc độ quạt ban đầu
tính theo phần trăm, tốc độ quạt tối thiểu theo phần trăm, tốc độ quạt tối đa theo phần trăm. Có thể để trống bất kỳ giá trị nào.
Một vài ví dụ:
::70:50:25 Nhiệt độ bộ nhớ mục tiêu 70C, quạt khởi đầu ở 50%, tốc độ quạt tối thiểu 25%.
55::::20:80 Nhiệt độ nhân mục tiêu 55C, quạt khởi đầu theo tốc độ của cấu hình mặc định,
luôn giữ quạt trong khoảng 20% đến 80%.
55::75:80 Điều chỉnh quạt để nhiệt độ nhân <= 55C và nhiệt độ bộ nhớ <= 75C, quạt
khởi đầu ở 80%.
:::100 Đặt tốc độ quạt cố định 100%, không bao giờ điều chỉnh theo nhiệt độ.
Cấu hình quạt dùng cho một GPU được xác định theo thứ tự ưu tiên sau:
1. Tham số --fan_control được truyền danh sách cấu hình và có một
mục cho GPU X.
2. Cấu hình quạt mặc định cho loại GPU này đã bị ghi đè bằng một
tham số --fan_default_<type>=....
3. Dùng cấu hình quạt mặc định tích hợp sẵn cho loại GPU này.
Trong danh sách trên, nếu cấu hình được chọn thiếu giá trị khởi đầu của quạt,
thiết lập từ cấu hình kế tiếp sẽ được dùng.
LƯU Ý: hỗ trợ quạt là tính năng beta và sẽ không hoạt động tốt hơn mức hỗ trợ mà
driver cung cấp. Ví dụ, nhiều khi driver trên linux không cho phép ép
quạt lên 100% bằng cơ chế pwm của sysfs.
--fan_default_polaris=CFG Đặt cấu hình mặc định dùng cho mọi GPU Polaris (450/460/550/560/470/480/570/580/590).
Mặc định tích hợp là 55:::50, tức nhiệt độ nhân 55C và quạt khởi đầu ở 50%.
Lưu ý: thiết lập này cũng được dùng lại cho GPU Tonga.
--fan_default_vega=CFG Đặt cấu hình mặc định dùng cho mọi GPU Vega (Vega 56/Vega 64).
Mặc định tích hợp là 55::70:50, tức nhiệt độ nhân 55C, nhiệt độ bộ nhớ 70C và quạt ở 50%.
--fan_default_vega2=CFG Đặt cấu hình mặc định dùng cho mọi GPU Radeon VII.
Mặc định tích hợp là 70::75:80, tức nhiệt độ nhân 70C, nhiệt độ bộ nhớ 75C và quạt ở 80%.
--fan_default_navi=CFG Đặt cấu hình mặc định dùng cho mọi GPU Navi (Navi10).
Mặc định tích hợp là 60::80:70, tức nhiệt độ nhân 60C, nhiệt độ bộ nhớ 80C và quạt ở 70%.
--fan_default_big_navi=CFG Đặt cấu hình mặc định dùng cho mọi GPU Big Navi (Navi21).
Mặc định tích hợp là 50:::70, tức nhiệt độ nhân 50C và quạt ở 70%. Lý do
không tính nhiệt độ bộ nhớ là thư viện ADL trên Windows thiếu cảm biến này.
--fan_debug Bật in log liên quan đến các lần điều chỉnh.
--fan_no_restore Tắt việc khôi phục cấu hình quạt ban đầu khi thoát phần mềm đào.
Tùy chọn watchdog:
--no_gpu_monitor Tắt bộ giám sát GPU ADL (Windows) hoặc sysfs (Linux) cho nhiệt độ và
tốc độ quạt.
--temp_limit=TEMP Đặt nhiệt độ nhân mà tại đó phần mềm đào sẽ dừng các GPU quá nóng.
Mặc định là 85C. Có thể cung cấp giá trị riêng cho từng GPU bằng danh sách phân tách bằng dấu phẩy,
mỗi GPU một giá trị. Nếu một GPU không có giá trị được khai báo, giá trị đầu tiên trong danh sách
sẽ được dùng.
--temp_resume=TEMP Đặt nhiệt độ nhân mà khi xuống dưới mức đó, phần mềm đào sẽ cho chạy lại các GPU trước đó
bị dừng do nhiệt độ nhân vượt giới hạn. Mặc định là 60C. Có thể cung cấp giá trị
riêng cho từng GPU bằng danh sách phân tách bằng dấu phẩy, mỗi GPU một giá trị. Nếu một GPU không
có giá trị được khai báo, giá trị đầu tiên trong danh sách sẽ được dùng.
--mem_temp_limit=TEMP Đặt nhiệt độ bộ nhớ mà tại đó phần mềm đào sẽ dừng các GPU quá nóng.
Mặc định không bật. Chỉ dùng nếu GPU có cảm biến nhiệt độ bộ nhớ.
Có thể cung cấp giá trị riêng cho từng GPU bằng danh sách phân tách bằng dấu phẩy, mỗi GPU một giá trị.
Nếu một GPU không có giá trị được khai báo, giá trị đầu tiên trong danh sách sẽ được dùng.
--mem_temp_resume=TEMP Đặt nhiệt độ bộ nhớ mà khi xuống dưới mức đó, phần mềm đào sẽ cho chạy lại các GPU trước đó
bị dừng do nhiệt độ bộ nhớ vượt giới hạn. Mặc định không bật. Chỉ
dùng nếu GPU có cảm biến nhiệt độ bộ nhớ. Có thể cung cấp giá trị riêng cho từng GPU
bằng danh sách phân tách bằng dấu phẩy, mỗi GPU một giá trị. Nếu một GPU không có giá trị được khai báo,
giá trị đầu tiên trong danh sách sẽ được dùng.
--watchdog_script(=X) Cấu hình watchdog GPU để tắt phần mềm đào, chạy script đã chỉ định
rồi thoát ngay lập tức. Script mặc định là watchdog.bat/watchdog.sh trong
thư mục hiện tại, nhưng có thể cung cấp script khác làm tham số tùy chọn,
có thể kèm đường dẫn tuyệt đối hoặc tương đối.
--watchdog_test Kiểm tra script watchdog đã cấu hình bằng cách kích hoạt cùng hành động như khi GPU chết
sau khoảng 20 giây đào.
--watchdog_disabled Buộc watchdog không thực thi. Có thể dùng để tắt watchdog trên các hệ điều hành đào
luôn chạy với watchdog được bật.
Tùy chọn Ethash:
--eth_config=CONFIG Cấu hình ethash thủ công cho phần mềm đào. CONFIG phải có dạng [X][M][L].
Giá trị [M] chọn chế độ, có thể là 'A', 'B' hoặc 'C'.
Chế độ 'B' dùng thêm bộ nhớ và chỉ hoạt động trên card từ 8GB trở lên.
Chế độ 'C' dùng thêm bộ nhớ và chỉ hoạt động trên card từ 16GB trở lên, như VII, với
hệ thống được cấu hình đúng. Xem ETHASH_TUNING_GUIDE.txt để biết thêm chi tiết.
Giá trị [L] chọn cường độ và phạm vi của nó phụ thuộc vào kiến trúc GPU.
Tiền tố [X] là tùy chọn và chỉ dành cho Navi/Big Navi, nó bật thêm thao tác bộ nhớ và
dẫn đến giá trị tinh chỉnh [L] thấp hơn. Nó có thể có lợi khi bộ tự động tinh chỉnh liên tục
chạm tới giá trị gần mức tinh chỉnh tối đa có thể của GPU.
Cả hai giá trị đều là tùy chọn, nhưng nếu chỉ định [L] thì cũng phải chỉ định [M].
Ví dụ cấu hình: --eth_config=A
--eth_config=B750
--eth_config=XB
CONFIG cũng có thể là danh sách giá trị cấu hình phân tách bằng dấu phẩy, mỗi giá trị
được áp dụng cho từng GPU. Ví dụ: --eth_config=A,B750,,A288
Mọi GPU không có cấu hình riêng trong danh sách sẽ dùng cấu hình
đầu tiên trong danh sách.
--eth_variant_mode=X Tham số này điều khiển việc kích hoạt các thay đổi ethash cho ETC từ epoch 390 như mô tả
trong ecip-1099. Có các chế độ sau:
pool - Chế độ mặc định. Chỉ kích hoạt nếu pool gửi cờ thuật toán chứa etchash.
Khi đã thấy cờ này, mọi job của pool sẽ được coi là etchash cho đến khi nhận được
cờ thuật toán khác chứa ethash.
etchash - Chế độ etchash. Epoch >= 390 sẽ được coi là etchash, epoch thấp hơn là ethash. Cờ
thuật toán của pool không được dùng.
deduce - Bỏ qua cờ thuật toán của pool và chỉ áp dụng phương pháp suy đoán dựa trên giờ hệ thống hiện tại
cùng các chiều cao block và thời điểm đã biết của ETC và ETH. Chế độ này sẽ hoạt động như một cách
tiếp cận chung khi ETH đạt epoch 390 vào tháng 1/2021. Đồng hồ hệ thống cần chính xác.
Nó cũng sẽ xử lý được mọi cấu hình chuyển đổi theo lợi nhuận chuyển qua lại tự do giữa job ethash và
etchash thông qua proxy tới các pool bên dưới.
auto - Chừng nào pool chưa gửi cờ thuật toán thì dùng chế độ deduce. Khi thấy cờ thuật toán,
chuyển sang chế độ pool.
ethash - Bắt buộc chế độ ethash. Không bao giờ áp dụng ecip-1099.
force_etc - Bắt buộc chế độ etchash. Luôn áp dụng quy tắc ecip-1099. Dùng để đào trên testnet ETC.
--eth_aggr_mode Bật tự động dùng chế độ 'B' cho mọi card Polaris 8GB, trừ khi chúng có
cấu hình khác được cung cấp qua tham số --eth_config. Điều này tương đương với việc
đặt thủ công mọi GPU Polaris 8GB trong dàn đào sang chế độ 'B' bằng --eth_config.
Với hầu hết GPU, điều này tăng thêm 0.1-0.2 MH/s hashrate. LƯU Ý: 20-25% dàn đào trở nên kém
ổn định hơn ở chế độ này, đó là lý do nó không phải chế độ mặc định. Nếu bạn gặp tình trạng
GPU chết, hãy bỏ tham số này và chạy GPU ở chế độ 'A'.
--eth_stratum_mode=MODE Đặt chế độ stratum cố định cho các pool ethash. Mặc định phần mềm đào sẽ cố
tự động xác định loại stratum mà pool hỗ trợ và dùng chế độ đó.
Có thể ghi đè việc tự động nhận diện này bằng tùy chọn này. MODE có thể
là một trong các tùy chọn sau: stratum, nicehash, ethproxy.
--eth_worker Đặt worker id sẽ được gửi tới pool. Chỉ áp dụng cho pool dùng chế độ stratum
ethproxy.
--eth_hash_report=X Điều khiển việc báo cáo hashrate tới các pool đã cấu hình. Giá trị này áp dụng cho mọi pool. Các giá trị:
default - để phần mềm đào tự quyết định dựa trên giao thức stratum mà mỗi pool dùng.
force - luôn gửi báo cáo hashrate, kể cả khi pool từ chối chúng.
on - gửi báo cáo hashrate đầu tiên, tắt với pool nào từ chối thông báo này.
off - không bao giờ gửi báo cáo hashrate.
--eth_epoch Kiểm tra một epoch ethash cụ thể. LƯU Ý: tùy chọn này sẽ tự động chuyển phần mềm đào sang chế độ benchmark, như
thể bạn đã thêm --benchmark.
--eth_alloc_epoch=N Cấp phát đủ bộ nhớ cho epoch đã cho ngay từ đầu. Phần mềm đào sẽ cố cấp phát thêm
nếu cần trong quá trình đào sau này.
--eth_dag_buf=X,Y,... Phần mềm đào có thể cấp phát một hoặc hai buffer cho DAG. Hiện tại mặc định là AUTO. Một
buffer đơn tốt hơn một chút, giúp tiết kiệm điện một chút trên mọi loại GPU. Chỉ các driver gần đây mới hỗ trợ
cấp phát đơn lớn hơn 4GiB, thường là từ Adrenalin 20.9.1 và amdgpu-pro 20.x. Với tham số này, phần mềm đào
có thể tự động dùng chế độ buffer đơn khi có thể, cũng như bắt buộc dùng buffer đơn hoặc kép
cho từng GPU. Các giá trị được hỗ trợ là A(uto), S(ingle), D(ual). Bạn có thể liệt kê danh sách phân tách bằng dấu phẩy
cho mọi GPU trong dàn đào, hoặc một giá trị duy nhất cho mọi GPU. GPU không có giá trị trong
danh sách sẽ dùng giá trị đầu tiên.
--eth_big_mode_adjust=X,Y,... Khi dùng chế độ B hoặc C, phần mềm đào chạy càng tốt khi cấp phát được càng nhiều vram. Tiếc là
driver không báo chính xác lượng bộ nhớ có thể cấp phát, đặc biệt là trên Windows.
Phần mềm đào sẽ dùng con số an toàn, thận trọng là 256MiB (Linux) và 512MiB (Windows) làm phần bù trừ khỏi
dung lượng vram khả dụng. Nếu muốn thay đổi con số này, bạn có thể dùng tham số này bằng cách cung cấp
danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy cho một hoặc nhiều GPU. Giá trị cho các GPU không chạy chế độ B/C sẽ bị
bỏ qua. Nếu một GPU không có giá trị trong danh sách, giá trị đầu tiên được cung cấp sẽ được dùng thay thế.
Khoảng cho phép là [-64, 2048]. Số càng cao, càng ít vram được cấp phát trên GPU.
--eth_dag_slowdown=N Làm chậm việc tạo DAG. Truyền một chữ số 0-9. 0 nghĩa là không làm chậm (hành vi của <= 0.7.9),
1 là làm chậm tối thiểu, 9 là tối đa. Giá trị mặc định: 4 để làm chậm nhẹ.
--eth_stagger Bật chế độ khởi động lần lượt từng GPU khi tạo DAG mới. Cách này nhẹ nhàng hơn với các PSU không chịu được
việc mọi GPU cùng lúc tăng tải từ 0 lên 100%.
--eth_no_stagger Tắt --eth_stagger. Đã là hành vi mặc định từ 0.7.18. Tham số được giữ lại chỉ để tương thích
ngược.
--eth_ramp_up Bật tăng dần cường độ trên mọi GPU sau khi tạo DAG, tắt/bật GPU hoặc mất mạng.
Có thể giúp các dàn đào bị crash ngay giữa lúc tạo DAG và bắt đầu đào.
--eth_no_ramp_up Tắt --eth_ramp_up. Đã là hành vi mặc định từ 0.7.18. Tham số được giữ lại chỉ để tương thích
ngược.
--eth_direct_abort Dùng cơ chế khác để hủy các job GPU đang chạy. Khuyến nghị cho Vega trong môi trường ROCm
để giảm thiểu share cũ (stale). Chỉ áp dụng cho các GPU Vega và Polaris trong dàn đào.
--eth_dag_alloc_patch Một số bo mạch chủ có bios lỗi thời có thể gặp lỗi phần cứng (hw err), thường ở GPU đầu tiên hoặc cuối cùng trong hệ thống.
Dùng tham số này để bắt buộc dùng chiến lược cấp phát dag đã vá, thường giải quyết được vấn đề.
Nâng cấp bios cũng thường giải quyết được vấn đề.
--eth_hashwatch(=M,M) Xác định hashrate tối thiểu/tối đa tính bằng MH/s mà watchdog mong đợi khi GPU đang đào. Nếu một GPU nằm ngoài
khoảng này quá lâu, nó sẽ bị coi là lỗi và watchdog sẽ được kích hoạt. Giá trị
tối thiểu/tối đa mặc định là 2 MH/s và 150 MH/s. Để kích hoạt với giá trị mặc định, hãy dùng
--eth_hashwatch. Để đặt giá trị riêng, hãy dùng ví dụ --eth_hashwatch=1.25,60. Cùng một khoảng được dùng
cho mọi GPU trong dàn đào. Giá trị âm cho một phía sẽ tắt phía đó, ví dụ dùng --eth_hashwatch=-1,1000
để xử lý các lần reset GPU dẫn đến hashrate ảo rất lớn nhưng không kiểm tra mức tối thiểu.
--eth_dag_cache(=EPOCH) Bật lưu các DAG eth từ các job có epoch khác nhau để không phải tạo lại chúng trong
tương lai nếu lại nhận được job với epoch cũ. Tối đa một DAG sẽ được lưu nếu bộ nhớ GPU
còn đủ chỗ. Điều này hữu ích khi chuyển pool, ví dụ đào eth+zil. Nếu bạn muốn tạo trước một
epoch nhất định ngay khi khởi động, hãy thêm giá trị tùy chọn. Phần mềm đào chuyển đổi eth+zil nên dùng
--eth_dag_cache=0. Hiện tại chỉ có thể tạo trước epoch ethash (không phải etchash).
--eth_dag_cache_resv=MEM Đặt lượng bộ nhớ GPU mà phần mềm đào sẽ cố để trống khi chạy với bộ nhớ đệm DAG
được bật (xem --eth_dag_cache). Tham số MEM là lượng bộ nhớ để trống tính bằng
mebibyte. Giá trị mặc định là 256.
--eth_dag_cache_verify Bật đọc và kiểm tra bộ nhớ đệm dag sau khi tạo dag xong. Tùy chọn này sẽ phát hiện các trường hợp
bộ nhớ đệm dag bị lỗi bit và dag tạo ra bị hỏng một phần. Chúng tôi thấy điều này
xảy ra ngày càng nhiều trên Vega khi dag ngày càng lớn. Khi phát hiện, một buffer mới sẽ được
cấp phát cho bộ nhớ đệm dag và việc tạo dag sẽ được khởi động lại.
--eth_micro_delay=VAL,VAL,... Thêm độ trễ (tính bằng micro giây) khi đưa lại công việc vào hàng đợi trên (các) GPU.
Các PSU yếu hơn cấp điện cho nhiều GPU đôi khi không xử lý được "tốc độ tăng tải" khi nhiều GPU tình cờ
đưa lại công việc vào hàng đợi đúng cùng một thời điểm. Đặt giá trị này, ví dụ 32, sẽ làm mượt quá trình chuyển
từ không tải lên 100% tải đủ để giảm tốc độ tăng tải trên các dàn đào như vậy. Dấu hiệu điển hình của
vấn đề này là treo cứng, dàn đào không phản hồi và phải ngắt điện để khởi động lại, nhưng cũng có thể
là GPU bị crash thường xuyên. Giá trị hợp lệ là 0-256. Có thể cung cấp giá trị cho từng GPU bằng danh sách phân tách bằng dấu phẩy.
GPU không có giá trị trong danh sách sẽ dùng giá trị đầu tiên. Giá trị mặc định của tham số này khi
đào ethash đơn thuật toán là:
Polaris: 64
Vega: 0
Navi: 0
--eth_ignore_abort_fail Khi hủy job thất bại, thường là do cường độ quá cao, và vì vậy phần mềm đào
tự động giảm cường độ. Tùy chọn này _tắt_ logic đó, giữ nguyên cường độ và
thay vào đó ghi cảnh báo vào log.
--eth_no_job_logs Ẩn mọi log về job mới nhận từ (các) pool. Áp dụng cho mọi phiên đào thuộc họ ethash,
tức là trong cấu hình đào kép eth+zil, log của cả pool eth và zil đều bị ẩn. Các job của pool
chuyển sang epoch mới vẫn được ghi log.
--eth_smooth_power=X,Y,... Cơ chế lập lịch "smooth power" được thêm vào từ 0.10.0 và có cho mọi loại GPU.
Nhìn chung đây là tính năng tốt, giúp tăng một chút hashrate và cải thiện độ ổn định trong hầu hết
trường hợp, và được bật mặc định trên mọi GPU. Tuy nhiên, có những dàn đào phản ứng không tốt và
bắt đầu bị crash. Khi đó, bạn có thể dùng tham số này để điều khiển tính năng cho từng GPU trong dàn đào.
Giá trị hợp lệ là 0 hoặc 1. Với dàn 5 GPU, bạn có thể dùng --eth_smooth_power=0,1,1,1,0 để tắt smooth
power trên GPU đầu tiên và cuối cùng. Nếu bạn không chỉ định giá trị cho một GPU, giá trị đầu tiên trong danh sách
sẽ được dùng. Nghĩa là bạn có thể tắt tính năng này cho cả dàn đào bằng --eth_smooth_power=0.
Tùy chọn Progpow (kawpow, firopow):
--prog_config=CONFIG Cấu hình progpow thủ công cho phần mềm đào. CONFIG phải có dạng [M][L].
Giá trị [M] chọn chế độ, có thể là 'A' hoặc 'B'.
Chế độ 'B' thường cho hiệu năng tốt hơn nhưng chỉ có cho
Vega trên linux và Navi (linux hoặc windows).
Giá trị [L] chọn cường độ và phạm vi của nó phụ thuộc vào kiến trúc GPU.
Cả hai giá trị đều là tùy chọn, nhưng nếu chỉ định [L] thì cũng phải chỉ định [M].
Ví dụ cấu hình: --prog_config=A
--prog_config=B750
CONFIG cũng có thể là danh sách giá trị cấu hình phân tách bằng dấu phẩy, mỗi giá trị
được áp dụng cho từng GPU. Ví dụ: --prog_config=A,B750,,A288
Mọi GPU không có cấu hình riêng trong danh sách sẽ dùng cấu hình đầu tiên.
--prog_height=VALUE Đặt chiều cao block cố định cho các thuật toán progpow nhằm mục đích benchmark. Tùy chọn này sẽ tự động
chuyển phần mềm đào sang chế độ benchmark.
--prog_strict Buộc phần mềm đào luôn tạo kernel chính xác tuyệt đối. Mặc định phần mềm đào sẽ
tạo kernel nới lỏng, dùng ít sức tính toán hơn nhưng đôi khi có thể dẫn đến
share không hợp lệ.
--prog_dag_slowdown=N Làm chậm việc tạo DAG. Truyền một chữ số 0-9. 0 nghĩa là không làm chậm (hành vi của <= 0.7.9),
1 là làm chậm tối thiểu, 9 là tối đa. Giá trị mặc định: 4 để làm chậm nhẹ.
--prog_stagger Xem --eth_stagger.
--prog_ramp_up Xem --eth_ramp_up.
--prog_no_stagger Xem --eth_no_stagger.
--prog_no_ramp_up Xem --eth_no_ramp_up.
--prog_micro_tune=X,Y,... Tùy chọn này bật một phiên tinh chỉnh lại nhỏ cho mỗi khối mã ngẫu nhiên mới. Điều này quan trọng
để GPU Polaris chạy ở tốc độ tối đa. Với Vega và Navi, nó thường không cải thiện
hiệu năng. Chế độ AUTO mặc định bật nó cho mọi GPU Polaris và tắt cho các GPU khác.
Lý do duy nhất để tắt nó là vì độ ổn định. Giá trị của tham số là
danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy, mỗi GPU một giá trị. Nếu một GPU thiếu giá trị, giá trị của
GPU đầu tiên sẽ được dùng. Xin lưu ý rằng đặt prog_config thủ công cũng sẽ thực chất tắt
bộ micro-tuner. Các giá trị có sẵn:
1 - TẮT micro-tuning progpow cho GPU này.
2 - BẬT micro-tuning progpow cho GPU này.
3 - để phần mềm đào tự quyết định có bật micro-tuning hay không (AUTO).
--prog_hash_report Bật bắt buộc gửi báo cáo hashrate (giống như với ethash) tới mọi pool. Đây là bí danh của
--eth_hash_report=force, cũng áp dụng được vì progpow và ethash dùng cùng (các) giao thức
pool.
Tùy chọn Cryptonight:
--rig_id Đặt định danh dàn đào sẽ được gửi tới pool. Chỉ dùng cho
các pool cryptonight.
--cn_config=CONFIG Cấu hình cryptonight thủ công cho phần mềm đào. CONFIG phải có dạng
[P][I0][M][I1][:xyz], trong đó [P] là tiền tố tùy chọn và [:xyz] là
hậu tố tùy chọn. Với [P], chỉ hỗ trợ giá trị 'L' cho các GPU cấp thấp
như Lexa/Baffin. [I0] và [I1] là giá trị cường độ luồng, thường
nằm trong khoảng từ 1 đến 16, nhưng có thể dùng giá trị lớn hơn với GPU 16GB. [M] là
chế độ, có thể là '.', '-', '+' hoặc '*'. Chế độ '.' nghĩa là phần mềm đào
sẽ tự chọn hoặc dò tìm chế độ tốt nhất. Chế độ '*' vừa là chế độ mặc định tốt vừa
_nên_ được dùng nếu bạn đào trên Vega 56/64 đã chỉnh timing bộ nhớ. Ngoại lệ
của quy tắc này là các biến thể pad nhỏ (cnv8_trtl và cnv8_upx2), chúng
vẫn nên dùng '+'. Với GPU Polaris, chỉ có các chế độ '-' và '+'.
LƯU Ý: từ TRM 0.5.0 đã bổ sung chức năng tự động tinh chỉnh, khiến việc cấu hình thủ công
các chế độ CN config không còn cần thiết trừ một số trường hợp hiếm gặp. Để biết thêm thông tin,
xem tài liệu tinh chỉnh và các tài liệu hướng dẫn đi kèm bản phát hành.
Ví dụ cấu hình: --cn_config=15*15:AAA
--cn_config=14-14
--cn_config=L4+3
CONFIG cũng có thể là danh sách giá trị cấu hình phân tách bằng dấu phẩy, mỗi giá trị
được áp dụng cho từng GPU. Ví dụ: --cn_config=8-8,16+14:CBB,15*15,14-14
Mọi GPU không có cấu hình riêng trong danh sách sẽ dùng cấu hình
đầu tiên trong danh sách.
--no_cpu_check Tắt kiểm tra bằng cpu đối với các share tìm được trước khi gửi tới pool.
Lưu ý: hiện chỉ các thuật toán CN hỗ trợ kiểm tra bằng cpu.
--no_lean Tắt chế độ CN lean, chế độ tăng dần số luồng khi khởi động hoặc khởi động lại sau
sự cố mạng hoặc GPU bị giảm xung do nhiệt độ.
--no_interleave=DEVS Liệt kê các thiết bị GPU không dùng logic xen kẽ luồng (interleave) của CN.
Tham số là danh sách thiết bị phân tách bằng dấu phẩy, giống như với tùy chọn -d.
Dùng tham số này nếu (các) thiết bị nào đó có hashrate kém hơn cùng với rất nhiều
thông báo log interleave adjust.
--alloc_patch=DEVS Liệt kê các thiết bị GPU bị giảm hashrate giữa TRM v0.4.5 và các phiên bản sau. Với
tham số này, một chiến lược cấp phát bộ nhớ đơn giản hơn được dùng, và hashrate cũ (cao hơn) sẽ
được khôi phục. Vẫn có thể dùng chế độ tự động tinh chỉnh.
--auto_tune=MODE Bật chế độ tự động tinh chỉnh khi khởi động. Chỉ có cho các biến thể CN. MODE phải
là NONE, QUICK hoặc SCAN. Chế độ QUICK kiểm tra một vài cấu hình tốt đã biết
và hoàn tất trong vòng 1 phút. Chế độ SCAN sẽ kiểm tra mọi tổ hợp có thể và sẽ
chạy trong 20-30 phút. Đặt MODE thành NONE sẽ tắt tính năng tự động tinh chỉnh. Chế độ
mặc định là QUICK.
--auto_tune_runs(=N) Thực hiện nhiều lượt tự động tinh chỉnh, mỗi lượt giảm số pad đã dùng đi 1
ở một trong các luồng (15+15 -> 15+14 -> 14+14 -> 14+13 -> ...). Bạn có thể chỉ định
số lượt cụ thể hoặc để phần mềm đào chọn giá trị mặc định theo loại GPU (thường là 3-4).
--auto_tune_exit Nếu có, phần mềm đào sẽ thoát sau khi hoàn tất quá trình tự động tinh chỉnh. Điều này hữu ích
khi bạn muốn dò tìm thiết lập tối ưu rồi dùng tham số dòng lệnh kết quả
do phần mềm đào in ra.
--allow_large_alloc Nếu có, và khi driver cho biết còn đủ vram GPU khả dụng, phần mềm đào
sẽ cấp phát bộ nhớ ban đầu mạnh tay hơn. Trên thực tế, tùy chọn này
nghĩa là GPU Vega trên Linux sẽ bắt đầu quá trình tự động tinh chỉnh ở 16*15 thay vì
16*14 hoặc 15*15.
Tùy chọn MTP:
--allow_all_devices Một số thuật toán không thể đào trên, ví dụ, GPU 4GB. Các GPU đó sẽ bị phần mềm đào
tự động tắt. Tham số này ghi đè logic đó và cho phép đào trên mọi thiết bị đã chỉ định
hoặc đã nhận diện.
Tùy chọn X16*:
--hash_order=VALUE Đặt thứ tự hash cố định cho các thuật toán như x16r nhằm mục đích benchmark.
Thiết lập này sẽ tự động chuyển phần mềm đào sang chế độ benchmark.
Thứ tự hash benchmark tiêu chuẩn cho x16r là --hash_order=0123456789abcdef.
Tùy chọn Nimiq:
--nimiq_worker=VALUE Đặt tên worker/thiết bị cho nimiq để gửi tới (các) pool.
--nimiq_no_proxy Tắt proxy Nimiq tự động chạy dưới dạng tiến trình riêng. Nghĩa là
host và cổng truyền cho phần mềm đào phải trỏ tới một proxy.
--nimiq_proxy=VALUE Ghi đè đường dẫn mặc định tới proxy Nimiq. Mặc định là trm_nimiq_proxy-win.exe
và trm_nimiq_proxy-linux trong thư mục hiện tại của phần mềm đào.
--nimiq_port=VALUE Ghi đè cổng cục bộ mặc định (4444) dùng cho proxy Nimiq. Có thể dùng nếu
hệ thống của bạn đã dùng cổng 4444 cho dịch vụ tcp/ip khác.
Tùy chọn Verthash:
--verthash_file=FILE Đặt tên tệp dùng để tải/lưu tệp dữ liệu verthash. Nếu tùy chọn này
được chỉ định khi dùng thuật toán verthash, phần mềm đào sẽ cố tải dữ liệu verthash
từ tệp. Nếu tệp không tồn tại, phần mềm đào sẽ tạo dữ liệu verthash
rồi lưu vào tệp để dùng sau này. Nếu không chỉ định tùy chọn này,
phần mềm đào sẽ tạo dữ liệu verthash trong bộ nhớ hệ thống mỗi lần khởi động.
--verthash_max_uploads=N Một số bo mạch chủ gặp sự cố khi mọi GPU trong dàn đào cùng tải bảng verthash lên
một lúc. Tham số này giới hạn số GPU đồng thời tải bảng lên
cùng lúc khi khởi động. Giá trị cho phép là 1-32. Giá trị mặc định là 4.
Tùy chọn Autolykos2:
--autolykos_mem_adjust=N Đặt lượng bộ nhớ tính bằng MiB mà phần mềm đào nên để trống khi cấp phát
buffer GPU cho autolykos. Giá trị mặc định là 384 trên linux và 512 trên windows. Với GPU
có gắn màn hình, giá trị mặc định tăng thêm 512. Nếu đào kép với ZIL, giá trị
mặc định tăng thêm 1024. Tùy chọn này cũng có thể nhận danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy,
mỗi giá trị áp dụng cho từng GPU. Nếu một giá trị trống được chỉ định
trong danh sách, giá trị mặc định sẽ được dùng cho GPU đó. Nếu không chỉ định giá trị cho một GPU,
nó sẽ dùng giá trị đầu tiên trong danh sách. Lượng vram dùng cần chứa được cả các buffer
chính và mọi buffer tạo trước cho chiều cao block kế tiếp. Ví dụ:
--autolykos_mem_adjust=256,512,,256
--autolykos_prebuild=N Cấu hình tốc độ tạo trước pad cho chiều cao block kế tiếp. Giá trị cao hơn nghĩa là tạo trước nhanh hơn
nhưng dao động công suất lớn hơn và có thể hashrate giảm nhiều hơn trong khi quá trình tạo trước
đang chạy. Giá trị hợp lệ là 0-9, trong đó 0 nghĩa là hoàn toàn không tạo trước và 9 là biến thể nhanh nhất.
Giá trị mặc định là 3 hoặc 4 tùy GPU. Bạn có thể chọn chỉ định một giá trị duy nhất cho mọi
GPU, hoặc danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy cho từng GPU.
--autolykos_slowdown=N Làm chậm quá trình tạo pad. Giá trị hợp lệ là 0-100. Mặc định là 0, không
làm chậm.
--autolykos_ignore_diff Bỏ qua độ khó do pool gửi và chỉ dùng target 256-bit cung cấp trong các job.
Một số pool không tuân theo cách triển khai pool của phần mềm đào tham chiếu ERGO, khi đó
tham số này _có thể_ giúp ích. LƯU Ý: tùy chọn này sẽ áp dụng cho mọi pool.
Tùy chọn đào kép ZIL:
--zil_start or --zil Bắt đầu cấu hình đào kép ZIL. Từ đây đến dấu --zil_end, mọi tham số đều
áp dụng cho việc đào ZIL thay vì thuật toán chính. Thuật toán chính được giả định
đã được thiết lập ở các tham số trước đó. Mục đích là bạn có thể thêm cấu hình --zil ... --zil_end
vào bất kỳ cấu hình thuật toán TRM nào đang hoạt động và mọi thứ sẽ chạy ngay.
Tham số này tự động đặt một loạt thiết lập mặc định mà bạn sẽ muốn dùng cho ZIL:
- Bản sao lưu đệm của DAG epoch 0 của ZIL.
- Điều chỉnh bộ nhớ cấp phát cho thuật toán chính để vừa với DAG của ZIL.
- Chọn chế độ ethash A cho việc đào ZIL.
Cấu hình tối thiểu hoạt động được là chỉ cung cấp một pool ZIL chấp nhận việc phần mềm đào bỏ qua
các job của coin chính và chỉ đào trong các khung thời gian của ZIL. Đây là ví dụ cho ezil.me:
--zil -o stratum+tcp://eu.ezil.me:5555 -u <eth wallet>.<zil wallet>.<worker name> -p x --zil_end
Để biết thêm thông tin, hãy đọc hướng dẫn đào kép ZIL đi kèm bản phát hành TRM.
--zil_end Đánh dấu kết thúc cấu hình đào ZIL, mọi tham số phía sau đều dành cho thuật toán
chính. Tham số này không bắt buộc, nhưng nên có trên các hệ điều hành đào, vì
người dùng không chắc chắn được hệ điều hành sẽ tự động thêm tham số nào vào cuối dòng
lệnh.
--stats_mode=single/dual Khi thêm đào kép ZIL, mặc định đầu ra thống kê sẽ được nhân đôi để bổ sung thông tin
cho việc đào ZIL. Một số công cụ có thể bị nhầm lẫn bởi điều này nếu chúng phân tích đầu ra hoặc
tệp log của TRM. Để chuyển về đầu ra mặc định, hãy thêm --stats_mode=single.
Tùy chọn TON:
--ton_pool_mode=X Chỉ định biến thể giao thức đào TON được dùng. Nếu không đặt, phần mềm đào sẽ cố suy ra lựa chọn đúng
từ tên host của pool. Các tùy chọn có sẵn:
toncoinpool - dùng giao thức stratum wss cho toncoinpool.
icemining - dùng giao thức stratum của ice mining qua tcp/ip.
tonpool - dùng phiên bản giao thức stratum của ice mining do tonpool triển khai, qua wss.
--wss_force_proxy Bắt buộc bật proxy wss tự động chạy dưới dạng tiến trình riêng, dùng cho các pool TON chạy
giao thức đào qua wss. Thông thường phần mềm đào tự động bật proxy này, nhưng nếu dùng địa chỉ IP thô
hoặc tên host bí danh để kết nối thì có thể cần tham số này.
--wss_no_proxy Tắt proxy wss tự động chạy dưới dạng tiến trình riêng, dùng cho các pool TON chạy
giao thức đào qua wss. Nghĩa là host và cổng truyền cho phần mềm đào phải trỏ
tới một proxy.
--wss_proxy=VALUE Ghi đè đường dẫn mặc định tới proxy wss. Mặc định là trm_nimiq_proxy-win.exe
và trm_nimiq_proxy-linux trong thư mục hiện tại của phần mềm đào, vì ban đầu nó chỉ được dùng cho
Nimiq.
--wss_port=VALUE Ghi đè cổng cục bộ mặc định (4444) dùng cho proxy wss. Có thể dùng nếu
hệ thống của bạn đã dùng cổng 4444 cho dịch vụ tcp/ip khác.
Tùy chọn đào kép Ethash:
--ton_start or --ton Bắt đầu cấu hình đào kép TON. Từ đây đến dấu --ton_end, mọi tham số đều
áp dụng cho việc đào TON thay vì thuật toán chính, thường là ethash. Ethash được giả định
đã được thiết lập ở các tham số trước đó. Mục đích là bạn có thể thêm cấu hình --ton ... --ton_end
vào bất kỳ cấu hình thuật toán TRM nào đang hoạt động và mọi thứ sẽ chạy ngay.
Cấu hình tối thiểu hoạt động được là chỉ cung cấp một pool TON. Đọc hướng dẫn đào TON để biết thông tin về
các pool được hỗ trợ. Đây là ví dụ cho icemining, dùng địa chỉ pool beta của họ:
--ton -o stratum+tcp://ton.hashrate.to:4003 -u <ton wallet>.<worker name> -p x --ton_end
Để biết thêm thông tin, hãy đọc hướng dẫn đào kép TON đi kèm bản phát hành TRM.
--ton_end Đánh dấu kết thúc cấu hình đào TON, mọi tham số phía sau đều dành cho thuật toán
chính. Tham số này không bắt buộc, nhưng nên có trên các hệ điều hành đào, vì
người dùng không chắc chắn được hệ điều hành sẽ tự động thêm tham số nào vào cuối dòng
lệnh.
--kas_start or --kas Bắt đầu cấu hình đào kép Kaspa. Từ đây đến dấu --kas_end, mọi tham số đều
áp dụng cho việc đào Kaspa thay vì thuật toán chính, thường là ethash. Ethash được giả định
đã được thiết lập ở các tham số trước đó. Mục đích là bạn có thể thêm cấu hình --kas ... --kas_end
vào bất kỳ cấu hình thuật toán TRM nào đang hoạt động và mọi thứ sẽ chạy ngay.
Cấu hình tối thiểu hoạt động được là chỉ cung cấp một pool Kaspa. Đây là một ví dụ:
--kas -o stratum+tcp://pool.woolypooly.com:3112 -u <kaspa wallet>.<worker name> -p x --kas_end
--kas_end Đánh dấu kết thúc cấu hình đào Kaspa, mọi tham số phía sau đều dành cho thuật toán
chính. Tham số này không bắt buộc, nhưng nên có trên các hệ điều hành đào, vì
người dùng không chắc chắn được hệ điều hành sẽ tự động thêm tham số nào vào cuối dòng
lệnh.
--dual_intensity=X,Y,Z,... Tham số này điều chỉnh cường độ đào kép theo hệ số từ 0.0 đến 1.0, trong đó 1.0
nghĩa là chạy thuật toán kép nhiều nhất có thể. Tùy chọn này được khuyến nghị để ép giảm điện năng tiêu thụ
mà không phải hạ xung nhân, vốn cũng sẽ ảnh hưởng đến hashrate ethash.
Tham số được cung cấp dưới dạng một giá trị chung duy nhất hoặc danh sách giá trị cho từng GPU. Ví dụ:
--dual_intensity=0.75 Mọi GPU dùng 75% mức khả dụng GPU tối đa cho TON.
--dual_intensity=0.75,1.0,0.5 Giá trị riêng cho ba GPU đầu tiên trong dàn đào, các GPU còn lại
dùng giá trị đầu tiên là 75%.
--dual_tuner_step=X Đặt bước nhảy mà bộ tinh chỉnh đào kép dùng khi thử các cường độ eth config khác nhau. Giá trị
thấp hơn cho kết quả chính xác hơn nhưng cũng mất nhiều thời gian hơn. Giá trị hợp lệ là 1,2,4,8,16,32,64.
--dual_tuner_period=X Đặt số giây bộ tinh chỉnh đào kép chạy cho mỗi cấu hình được thử. Mặc định là 7 giây.
--dual_tuner_weights=X:Y:Z Bộ tinh chỉnh đào kép cần trọng số chấm điểm cho biết 1 MH/s của thuật toán chính và thuật toán kép
có giá trị bao nhiêu. Phần mềm đào có sẵn giá trị mặc định đúng tại thời điểm mỗi thuật toán được triển khai
và bổ sung, nhưng khi hashrate mạng và giá thị trường thay đổi, có thể cần cung cấp giá trị mới.
Tham số này nhận ba giá trị, tất cả đều phải là số dương:
X Điểm cho 1 MH/s của thuật toán chính (thường là ethash).
Y Điểm cho 1 MH/s của thuật toán phụ (thường là TON hoặc Kaspa).
Z Chi phí cho mỗi 1 W công suất đo được. Hiện tại chúng tôi khuyến nghị đặt giá trị này bằng 0.
Ví dụ cho ETH+TON:
Dựa trên giá trị tương đối tự ước tính: mỗi MH/s ETH có giá trị bằng 100 MH/s TON/Kaspa
--dual_tuner_weights=100:1:0
Dựa trên máy tính lợi nhuận đào: $0.0437 cho 1 MH/s ETH, $0.0005476 cho 1 MH/s TON/Kaspa
--dual_tuner_weights=0.0437:0.0005476:0
Tùy chọn FPGA:
--fpga_devices=LIST Đặt các thiết bị FPGA cần dùng từ danh sách đã nhận diện. LIST phải là danh sách phân tách bằng dấu phẩy gồm
chỉ số thiết bị hoặc DNA thiết bị như hiển thị bởi --list_devices.
Ví dụ: -d 0,1,2,4
-d 40020000013ae32135111111,40020000013ae32135222222,40020000013ae32135333333
Nếu không chỉ định, mọi thiết bị FPGA khả dụng sẽ được dùng.
--fpga_clk_core=LIST Đặt xung nhân của thiết bị FPGA. Xung nhịp được cung cấp dưới dạng
danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy tính bằng megahertz, mỗi giá trị áp dụng cho từng thiết bị FPGA.
Nếu danh sách ngắn hơn tổng số thiết bị, các thiết bị còn lại sẽ dùng
giá trị đầu tiên trong danh sách. Ví dụ --fpga_clk_core=600,620 sẽ áp dụng xung 600MHz cho
FPGA 0 và 620MHz cho FPGA 1. Nếu có các thiết bị FPGA 2 trở đi, chúng sẽ được đặt ở 600MHz.
--fpga_clk_mem=LIST Đặt xung bộ nhớ của thiết bị FPGA. Định dạng giống --fpga_clk_core.
--fpga_vcc_int=LIST Đặt điện áp vcc_int trên các bo mạch có hỗ trợ. Giá trị điện áp được cung cấp dưới dạng
danh sách giá trị phân tách bằng dấu phẩy tính bằng milivôn (mV), mỗi giá trị áp dụng cho từng bo mạch.
Nếu danh sách ngắn hơn tổng số thiết bị, các thiết bị còn lại sẽ dùng
giá trị đầu tiên trong danh sách. Ví dụ --fpga_vcc_int=700,800 sẽ áp dụng vcc_int 700mV cho
FPGA 0 và vcc_int 800mV cho FPGA 1. Nếu có các thiết bị FPGA 2 trở đi, chúng sẽ được đặt ở 700mV.
--fpga_vcc_bram=LIST Đặt điện áp vcc_bram trên các bo mạch có hỗ trợ. Định dạng giống --fpga_vcc_int.
--fpga_vcc_mem=LIST Đặt điện áp bộ nhớ/HBM trên các bo mạch có hỗ trợ. Định dạng giống --fpga_vcc_int.
--fpga_update_fw Bật cập nhật firmware bộ điều khiển vệ tinh cho bo mạch C1100 bằng firmware TRM tùy biến
để hỗ trợ các tính năng như điều khiển điện áp khi đang chạy. Chỉ các bo mạch được chọn bằng
tùy chọn --fpga_devices mà chưa chạy phiên bản firmware mới nhất mới được cập nhật.
***** CẢNH BÁO: Người dùng cần cẩn thận để không làm gián đoạn quá trình cập nhật firmware! *****
***** Gián đoạn có thể khiến bo mạch bị brick và rất khó khôi phục. *****
--fpga_allow_unsafe=LIST Tắt các giới hạn an toàn mặc định cho các FPGA đã chỉ định. Các thiết bị được chỉ định bằng
danh sách giá trị DNA phân tách bằng dấu phẩy, ví dụ --fpga_allow_unsafe=40020000013ae32135111111
***** CẢNH BÁO: Chạy vượt giới hạn an toàn có thể gây HƯ HỎNG VĨNH VIỄN cho thiết bị! *****
--fpga_tcore_limit=LIST Đặt giới hạn mềm cho nhiệt độ nhân của thiết bị FPGA. Nếu nhiệt độ nhân FPGA vượt quá
giá trị chỉ định, phần mềm đào sẽ hạ xung FPGA để đưa nhiệt độ nhân xuống dưới
giá trị đó. Giá trị tính bằng độ C, định dạng danh sách tương tự --fpga_clk_core.
--fpga_tmem_limit=LIST Đặt giới hạn mềm cho nhiệt độ bộ nhớ của thiết bị FPGA. Xem mô tả ở --fpga_tcore_limits.
--fpga_ivccint_limit=LIST Đặt giới hạn mềm cho dòng điện của bộ ổn áp VCCINT. Xem mô tả ở --fpga_tcore_limits.
--fpga_ivccbram_limit=LIST Đặt giới hạn mềm cho dòng điện của bộ ổn áp VCCBRAM. Xem mô tả ở --fpga_tcore_limits.
--fpga_max_jtag_mhz=XY.Z Đặt tần số tối đa cho phép dùng cho giao tiếp jtag của fpga. Mặc định là 30.0 MHz.
--fpga_eth_clk_dag=LIST Đặt xung nhân FPGA dùng trong quá trình tạo DAG Ethash. Mặc định các giá trị này
sẽ được đặt ở 90% xung nhân thông thường. Định dạng giống --fpga_clk_core.
